Vấn nạn virus hiện vẫn đang là mối quan
tâm lớn của người dùng máy tính do số lượng và "sức chiến đấu" của các loại
virus ngày càng tăng. Hiện nay đang nổi lên một dạng virus hay nói đúng hơn là
một loại sâu máy tính (worm) làm đau đầu người dùng máy tính tại Việt
Nam.

Các sâu máy tính này thường có nhiệm vụ "gây rối" máy tính, làm cho
máy tính hoạt động không bình thường, tốc độ xử lý chậm đi nhiều, một số chức
năng của hệ điều hành không hoạt động được nữa như Task manager, Regedit,
msconfig, xem các file ẩn.

Phá hoại và làm tê liệt các chương trình diệt
virus. Có thể một số sâu còn làm máy tính in ra các ký tự lạ, không gõ được
tiếng việt,.... Đồng thời cũng có sâu ăn cắp các thông in cá nhân trong máy tính
và gửi các thông tin này tới hacker, các sâu có thể mở một số cổng (port) trên
máy tính để giúp hacker thâm nhập máy tính dễ dàng.

Đa số các máy tính bị
nhiễm các sâu máy tính này khi copy dữ liệu từ ổ USB, từ thẻ nhớ vào ổ cứng, khi
copy dữ liệu từ các ổ cứng khác trên mạng, khi chạy các file được download từ
các nguồn không tin cậy trên mạng internet...

Lúc này, bạn nên nghĩ tới
cách diệt virus bằng tay dưới đây:
http://www.xahoithongtin.com.vn/imag...7_05/11766.jpg
Bước
1: Kiểm tra tình trạng máy tính của mình xem thực sự có bị nhiễm virus hay sâu
không?

Bạn để ý đến tốc độ máy tính xem có chậm không, khi mà mình không
chạy nhiều chương trình. Có thể xem phần trăm sử dụng CPU để biết được chính
xác: ấn Ctrl + Alt + Del -> Chọn Task Manager -> Chọn
Performance.

Tuy nhiên có một số sâu máy tính lại phá hỏng mất chức năng
Task Manager và làm theo bước trên, bạn chỉ nhìn thấy chữ Task Manager bị mờ đi
và không chọn được.

Đây là dấu hiệu máy tính của bạn bị nhiễm sâu. Hoặc
bạn có thể vào Start -> Chọn Run. Tại hộp hội thoại, bạn gõ chữ regedit ->
chọn OK -> Không thấy xuất hiện cửa sổ mới nào -> Đây cũng là dấu hiệu máy
bạn bị nhiễm sâu.

Khi đã kết luận được máy tính của mình bị nhiễm con
virus hoặc sâu nào đó, bạn thực hiện tiếp bước 2.

Bước 2: Khởi động lại
máy tính (restart) và chạy Windows ở chế độ Safe Mode.

Để chạy Windows Xp
ở chế độ Safe Mode, khi máy tính mới khởi động lại (lúc màn hình bắt đầu hiển
thị các thông số về máy tính như ở cứng, bộ nhớ RAM,...), bạn ấn liên tục phím
F8, sau đó màn hình sẽ hiện ra các lựa chọn chế độ khởi động, bạn dùng phím mũi
tên để lựa chọn chế độ Safe Mode.

Khi bạn khởi động tại chế độ Safe Mode
này, Windows sẽ chỉ chạy các ứng dụng cần thiết của hệ điều hành mà không chạy
các ứng dụng cài thêm có trong thư mục Startup, có trong chế độ chạy khi khởi
động của registry. Mà đây là 2 con đường để virus và sâu được kích
hoạt.

Như vậy, chạy chế độ Safe Mode để máy tính của bạn không kích hoạt
virus và sâu chạy. Sau khi đăng nhập vào máy tính của bạn một cách thông thường
ở chế độ Safe ode, bạn tiếp tục thực hiện bước 3.

Bước 3: Hủy bỏ các
chương trình chứa sâu và virus được tự động chạy khi khởi động máy
tính

Hủy bỏ trong thư mục Startup: Bạn vào Start -> Programs ->
Startup -> Trỏ phải chuột vào thư mục Startup và chọn Open.

Tại cửa sổ
mới này, bạn kiểm tra vào nếu thấy chương trình phần mềm nào khả nghi, lạ, bạn
chưa sử dụng bao giờ, bạn xóa nó đi hoặc cut và paste sang một chỗ khác để không
cho nó tự động chạy khi khởi động máy tính.

Hủy bỏ trong registry: Bạn
vào Start -> Run -> Tại hộp hội thoại gõ msconfig.

Cửa sổ System
Configuration Utility hiện ra và bạn chọn thẻ Startup.

Tại đây, bạn cũng
kiểm tra xem có các ứng dụng nào lạ, nghi ngờ là virus thì bạn bỏ nút check tại
cột Startup Item để chúng không được chạy khi khởi động máy tính.

Bạn nên
đặc biệt quan tâm tới tên ứng dụng tại cột Startup Item và đường dẫn của ứng
dụng tại cột Command để xác định xem đó có phải là virus hoặc sâu máy tính
không. Sau khi bỏ các chương trình nghi nhiễm virus xong, bạn chọn OK. Chú ý
đừng chọn khởi động lại máy tính ngay vì bạn còn phải thực hiện tiếp bước
4.

Bước 4: Xóa các file nghi nhiễm virus

ở bước 3, bạn đã có thể
biết file nào nghi bị nhiễm virus và nó đang nằm ở đâu. Lúc này bạn nên tìm tới
thư mục đó và Cut sau đó Paste file đó sang một thư mục tạm thời nào đó tại ổ C
để lưu, phòng trường hợp sự nghi ngờ của mình là sai thì có thể khôi phục lại
được.

Đồng thời có thể còn một số file bị nhiễm virus khác mà bạn có thể
thấy khi quan sát trong Task Manager ở bước 1. Bây giờ bạn hãy dùng chức năng
Search của Windows để tìm ra file đó và cũng Cut, Paste sang một thư mục tạm tại
ổ C.

Một số file đuôi là exe với tên rất lạ nằm thư mục gốc ổ C, D thường
là các file bị nhiễm virus. Hoặc các file autorun.ini, autorun.inf nằm tại thư
mục gốc hoặc các thư mục khác (ngoại trừ thư mục copy dữ liệu từ đĩa CD) cũng là
các file rất có thể bị nhiễm virus. Bạn chỉ cần kích hoạt các file này là máy bị
nhiễm virus ngay lập tức.

Bước 5: Khởi động lại máy tính và chạy ở chế độ
bình thường

Lúc này, nếu các nghi ngờ và thao tác tại các bước trên của
bạn đúng. Máy tính của bạn sẽ "trong sạch" và hoạt động tốt. Tuy nhiên nếu các
chức năng như Task manager, msconfig, regedit, Folder Options vẫn bị mờ hoặc
không hoạt động được thì bạn nên vào website dưới đây để download các công cụ
hoặc đọc hướng dẫn để khôi phục chúng: www.dougknox.com.

Lưu ý:

Do việc xác định các
file bị lây nhiễm virus là quan sát của cá nhân bạn nên có thể có sự nhầm lẫn
giữa file bị lây nhiễm virus và file bình thường. Vì vậy, bạn nên sao lưu các
file nghi nhiễm virus ra trước khi xóa nó để có thể khôi phục khi cần
thiết.

Đồng thời bạn chỉ nên làm theo các bước trên sau khi bạn đã diệt
virus bằng các chương trình diệt virus mới nhất mà vẫn không hiệu quả. Chúc bạn
thành công!